AP Statistics
third quartile
Còn gọi: Q3 · tứ phân vị trên · phân vị 75%

Tứ phân vị thứ ba là giá trị chia 25% dữ liệu lớn nhất ra khỏi 75% dữ liệu còn lại trong một bộ số liệu đã sắp xếp theo thứ tự.
Khi sắp xếp toàn bộ dữ liệu từ nhỏ đến lớn, ta có thể chia chúng thành bốn phần bằng nhau. Tứ phân vị thứ ba (third quartile) là điểm ranh giới mà bên dưới nó chứa đúng 75% số quan sát và bên trên nó nằm 25% số quan sát còn lại. Do đó, giá trị này còn được gọi là phân vị 75%.
Về cách tính, ta tìm trung vị (median) trước, rồi lấy trung vị của nửa dữ liệu nằm bên phải trung vị. Công thức có thể viết gọn: nếu bộ dữ liệu có quan sát, vị trí của Q3 nằm ở xấp xỉ . Khi vị trí này không rơi đúng vào một quan sát, ta nội suy giữa hai giá trị kề nhau. Giá trị Q3 kết hợp với Q1 cho ta khoảng tứ phân vị (interquartile range), viết tắt , một đại lượng đo mức phân tán ít bị ảnh hưởng bởi giá trị ngoại lai.
Vì vậy, Q3 đóng vai trò then chốt trong việc nhận diện giá trị ngoại lai (outlier). Theo quy tắc phổ biến, bất kỳ quan sát nào vượt quá đều bị xem là giá trị ngoại lai ở đầu trên. Ngược lại, Q3 còn được dùng để vẽ biểu đồ hộp (boxplot), trong đó nó đánh dấu cạnh trên của hộp, giúp so sánh trực quan nhiều phân phối với nhau.
Trực giác: Nếu xếp cả lớp theo chiều cao từ thấp đến cao, tứ phân vị thứ ba là bạn học sinh đứng ở vị trí mà 75% số bạn thấp hơn hoặc bằng.
Dùng để xác định giá trị tại vị trí bách phân vị thứ 75 (75th percentile) trong một tập dữ liệu đã sắp xếp; kết hợp với tứ phân vị thứ nhất để tính khoảng tứ phân vị (IQR = Q3 − Q1).
Trong đó
Khoảng tứ phân vị (interquartile range) đo độ trải rộng của 50% giá trị ở giữa phân phối; dùng để phát hiện giá trị ngoại lai (outlier) theo quy tắc 1,5 × IQR.
Trong đó
cuối thế kỷ 19Francis Galton
Khi số liệu đã được sắp từ nhỏ đến lớn, một con số đại diện duy nhất ở giữa vẫn chưa cho biết dữ liệu trải rộng đến đâu. Cách xử lý là đặt thêm các mốc cắt: trung vị chia đôi dãy, rồi mỗi nửa lại được chia đôi lần nữa, và ba mốc cắt ấy chia toàn bộ dãy thành bốn phần có số quan sát xấp xỉ bằng nhau. Mốc trên cùng chính là tứ phân vị thứ ba, tách 25% giá trị lớn nhất khỏi 75% còn lại. Cuối thế kỷ 19, Francis Galton là người đầu tiên dùng các từ tứ phân vị và khoảng tứ phân vị theo nghĩa này, và từ đó cặp , trở thành công cụ chuẩn để mô tả độ phân tán.
Tứ phân vị thứ ba là một giá trị của dữ liệu, không phải con số 75%.
Khi đề hỏi "What is the third quartile?", câu trả lời phải mang đơn vị của biến đang xét — 3 anh chị em, 82 điểm, 15.4 giây — chứ không phải "75%". Con số 75 chỉ mô tả vị trí: có khoảng 75% quan sát nhỏ hơn hoặc bằng mốc đó, nên chính là phân vị thứ 75 (75th percentile). Nhầm giữa mốc và tỉ lệ phần trăm là lỗi khiến câu trả lời tự do bị trừ điểm dù học sinh hiểu ý.
Không được lấy cho tứ phân vị thứ ba của một phân bố bất kỳ.
Con số quen thuộc ấy sinh ra từ bảng phân bố chuẩn (normal distribution), nơi mốc 75% rơi vào khoảng độ lệch chuẩn phía trên trung bình. Khi đề nói rõ phân bố không đối xứng, mọi liên hệ giữa phân vị và điểm đều sụp đổ: một đuôi dài bên phải có thể đẩy lên rất xa hoặc kéo nó nằm sát trung bình, tùy hình dạng cụ thể. Vì vậy đáp án đúng cho dạng câu hỏi này thường là không thể xác định nếu chưa biết thêm thông tin, chứ không phải một con số đẹp.
Ngưỡng phát hiện giá trị ngoại lai là , không phải .
Ở đây là khoảng tứ phân vị (interquartile range), tức bề rộng của nửa giữa dữ liệu, nên phải trừ hai tứ phân vị trước rồi mới nhân 1.5. Rất nhiều bài làm nhân thẳng 1.5 vào , hoặc đo 1.5 lần tính từ trung vị, và cho ra ngưỡng lệch hẳn. Sai một bước số học ở đây kéo theo kết luận sai về việc dữ liệu có giá trị ngoại lai (outlier) hay không, mất trọn điểm của phần đó.
Ngưỡng vừa tính ra không phải là một giá trị có thật trong dữ liệu.
Sau khi có , bạn còn phải đối chiếu với các quan sát thực tế xem có quan sát nào vượt ngưỡng hay không rồi mới kết luận. Trên biểu đồ hộp (boxplot), đầu mút của râu bên phải là giá trị lớn nhất còn nằm trong ngưỡng, chứ không phải chính cái ngưỡng — hai thứ này gần như luôn khác nhau. Với dữ liệu đếm như số anh chị em, có thể chỉ bằng 1 hoặc thậm chí bằng 0; điều đó hoàn toàn bình thường và không có nghĩa là bạn tính sai.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi bắt nguồn từ ý "một phần tư": các mốc này chia dãy số liệu đã sắp thứ tự thành bốn phần bằng nhau, nên chúng được gọi là tứ phân vị. Chữ "thứ ba" chỉ vị trí của mốc trong ba điểm cắt tính từ dưới lên, chứ không phải giá trị thứ ba của dãy — đây là chỗ dễ nhầm. Vì nó nằm cao nhất trong ba mốc nên còn có tên tứ phân vị trên (upper quartile), và vì có 75% dữ liệu nằm dưới nó nên nó trùng với phân vị thứ 75 (75th percentile). Hiệu mang tên khoảng tứ phân vị (interquartile range) đúng theo nghĩa "khoảng nằm giữa hai tứ phân vị", đo bề rộng của 50% dữ liệu ở giữa.
Nguồn đối chiếu
Kéo chấm ngoài cùng bên phải ra thật xa — nhìn vạch Q₃ đứng yên
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết ra công thức ngưỡng kèm số cụ thể trước khi kết luận về giá trị ngoại lai.
Người chấm cần thấy chuỗi , rồi , rồi mới tới câu so sánh kiểu "giá trị lớn nhất là 7, lớn hơn 5.5, nên đây là giá trị ngoại lai". Chỉ ghi mỗi đáp số cuối cùng thì dù đúng vẫn có thể mất điểm giao tiếp, vì bài giải không cho thấy bạn dùng quy tắc nào. Khi đề cho sẵn bảng thống kê tóm tắt, hãy chép lại và vào bài làm trước khi tính.
Đề nói phân bố không đối xứng là tín hiệu loại bỏ mọi công thức của phân bố chuẩn.
Đề cố tình cài chi tiết "not symmetric", "skewed to the right" để xem bạn có phản xạ tra bảng một cách máy móc hay không. Trong trường hợp đó, thứ duy nhất còn đúng về là ý nghĩa vị trí của nó: khoảng một phần tư dữ liệu nằm phía trên. Chọn phương án "không đủ thông tin" ở đây thường là chọn đúng.
Nhớ rằng máy tính cầm tay và bài giải bằng tay có thể cho hơi lệch nhau.
Chức năng 1-Var Stats trên máy TI loại trung vị ra khỏi hai nửa khi tính tứ phân vị, trong khi một số cách làm tay lại giữ trung vị lại, nên hai kết quả có thể chênh nhau chút ít với mẫu cỡ lẻ. Trong bài thi, hãy dùng thẳng mà đề hoặc bảng tóm tắt đã cho; nếu tự tính, ghi rõ cách chia dữ liệu để người chấm theo được lập luận.
Tứ phân vị thứ ba của thời gian đi học là phút, nghĩa là khoảng ba phần tư học sinh trong lớp đi hết 23,5 phút trở xuống. Với phút, rào trên bằng 42,25 phút nên học sinh mất 62 phút là giá trị ngoại lai duy nhất của bộ số liệu; không có giá trị ngoại lai ở phía thấp. Nếu mọi học sinh đều mất thêm 5 phút thì tứ phân vị thứ ba tăng thành 28,5 phút, còn khoảng tứ phân vị vẫn là 12,5 phút.
Với phân phối chuẩn có trung bình 500 và độ lệch chuẩn 100, tứ phân vị thứ ba của điểm thi vào khoảng điểm. Còn ở kỳ thi có phân bố không đối xứng, ta không thể ước lượng điểm z của tứ phân vị thứ ba: giá trị 0,67 chỉ đúng cho đường cong chuẩn, nên với hình dạng khác thì cần biết thêm thông tin về phân bố mới kết luận được.