AP Statistics
interval estimateVietnamese: ước lượng khoảng
Còn gọi:Also called: ước lượng bằng khoảng · khoảng ước lượng

Ước lượng khoảng là một khoảng các giá trị được dùng để ước lượng tham số chưa biết của tổng thể, thay vì chỉ đưa ra một con số duy nhất.An interval estimate is a range of values used to estimate an unknown population parameter, rather than a single number.
Trực giác: Hỏi một người về tuổi của bạn, họ không nói chắc được 27 tuổi — nhưng họ có thể nói tự tin rằng bạn từ 25 đến 30 tuổi: đó chính là ước lượng khoảng.Intuition: Ask someone to guess your age and they can't commit to exactly 27 — but they can say confidently that you're between 25 and 30. That range is an interval estimate.
Công thức chínhKey formula
Ước lượng khoảng là phương pháp thống kê suy luận dùng mẫu để tạo khoảng quanh thống kê mẫu, nhằm ước lượng tham số tổng thể chưa biết. Với khoảng tin cậy dựa trên sai số chuẩn, độ rộng tăng theo mức tin cậy và độ phân tán, còn sai số biên giảm theo .
Tham số là cố định; khoảng thay đổi giữa các mẫu. Mức tin cậy xấp xỉ tỉ lệ các khoảng chứa tham số nếu lặp quy trình nhiều lần, không phải đặc điểm của từng cá thể.
An interval estimate is an inferential method that uses sample data to build a range around a sample statistic in order to estimate an unknown population parameter. For a confidence interval based on standard error, the width grows with the confidence level and with the variability of the data, while the margin of error shrinks in proportion to .
The parameter is fixed; it is the interval that changes from sample to sample. The confidence level gives the approximate proportion of intervals that would capture the parameter if the whole procedure were repeated many times — it is not a statement about any single individual.
Dùng khi lập khoảng ước lượng quanh thống kê mẫu bằng sai số chuẩn và giá trị tới hạn .Use this to build an interval around a sample statistic from the standard error and the critical value .
Trong đóWhere
Đổi khoảng tỉ lệ sang số đếm không cần tính lại sai số biên.
Hãy nhân cả hai đầu mút với cỡ tổng thể; cỡ mẫu đã được dùng khi tính sai số biên.
Khoảng tin cậy nói về tham số tổng thể, không về từng cá thể.
Mức tin cậy mô tả tỉ lệ khoảng chứa giá trị thật khi lặp quy trình lấy mẫu, không phải tỉ lệ cá thể có đặc điểm.
Khoảng cho hiệu hai tỉ lệ chứa 0 không chứng minh chúng bằng nhau.
Dữ liệu chỉ chưa đủ bằng chứng về khác biệt; đầu mút âm vẫn giữ dấu để biểu thị chiều phép trừ.
Converting an interval for a proportion into counts does not require recomputing the margin of error.
Multiply both endpoints by the population size; the sample size has already been used in finding the margin of error.
A confidence interval describes the population parameter, not individual members of the population.
The confidence level refers to the proportion of intervals that capture the true value when the sampling procedure is repeated, not the proportion of individuals with a characteristic.
An interval for a difference of two proportions that contains 0 does not prove the proportions are equal.
It only means the data give insufficient evidence of a difference; negative endpoints keep their sign to show the direction of the subtraction.
Chọn giá trị tới hạn và công thức sai số chuẩn đúng bối cảnh.
Giá trị tới hạn phụ thuộc mức tin cậy. Với khoảng cho hiệu hai tỉ lệ, sai số chuẩn không gộp như trong kiểm định giả thuyết.
Câu diễn giải phải nêu mức tin cậy, tham số, tổng thể và đơn vị.
Với kết quả là số đếm, làm tròn hợp lý và ghi đơn vị; nhắc điều kiện suy luận nếu đề đã giả định chúng thỏa mãn.
Choose the critical value and the standard error formula that fit the situation.
The critical value depends on the confidence level, and for an interval for a difference of two proportions the standard error is not pooled as it is in a hypothesis test.
An interpretation must name the confidence level, the parameter, the population, and the units.
When the answer is a count, round sensibly and state the units; mention the inference conditions if the problem has already assumed they are met.
đầu thập niên 1930Jerzy NeymanEgon Pearson
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nói đúng điều nó làm và đối lập với người anh em của nó. Khi ta lấy trung bình mẫu rồi tuyên bố đó chính là câu trả lời, ta đang làm ước lượng điểm (point estimation) — kết quả là một điểm duy nhất trên trục số. Ngược lại, ước lượng khoảng trả về nguyên một đoạn giá trị khả dĩ, nên chữ "khoảng" trong tên gọi chỉ thẳng vào hình dạng của kết quả chứ không phải vào phương pháp tính. Chữ "tin cậy" trong tên gọi khoảng tin cậy đến từ ý tưởng gắn cho mỗi khoảng một mức độ tin cậy định lượng, thay vì để người đọc tự đoán xem con số ước lượng đáng tin đến đâu. Cần lưu ý rằng ước lượng khoảng là tên gọi chung của cả một họ công cụ: bên cạnh khoảng tin cậy theo trường phái tần suất còn có khoảng tin cậy Bayes (credible interval), khoảng dung sai (tolerance interval) và khoảng dự báo (prediction interval). Chương trình phổ thông chỉ dùng loại đầu tiên, nhưng biết rằng cái tên bao trùm hơn thế sẽ giúp bạn khỏi bỡ ngỡ khi gặp các thuật ngữ còn lại.
Kéo mức tin cậy lên 99% — nhìn mọi thanh khoảng dài ra
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — đăng nhập để mở.Drag the parameters and watch the concept move — sign in to open.
Quiz câu thật từ ngân hàng đềReal exam questions from our question bank
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.A few real questions on exactly this concept, graded instantly with an explanation for every choice — the system remembers how well you know it.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy.Written by DucklingStudy. © DucklingStudy. Xuất bảnPublished .