AP Statistics
one-sample z-test for a proportion
Còn gọi: one-sample z-test for a proportion
Kiểm định z một mẫu cho tỉ lệ là thủ tục dùng tỉ lệ mẫu để kiểm tra một giả thuyết về tỉ lệ tổng thể chưa biết.
Khi cần biết tỉ lệ thật của một tổng thể có bằng giá trị giả định hay không, ta không thể khảo sát toàn bộ tổng thể mà chỉ dựa vào một mẫu ngẫu nhiên (random sample). Vì vậy, kiểm định z một mẫu cho tỉ lệ (one-sample z-test for a proportion) so sánh tỉ lệ mẫu với rồi quy đổi khoảng cách đó thành số độ lệch chuẩn qua thống kê kiểm định Ở đây là cỡ mẫu, còn mẫu số là sai số chuẩn của tính theo giả thuyết gốc, tức giả định đúng để suy ra độ biến thiên kỳ vọng của tỉ lệ mẫu.
Giá trị cho biết tỉ lệ mẫu quan sát được lệch giả thuyết gốc bao nhiêu lần sai số chuẩn, từ đó tra giá trị p trên phân phối chuẩn để quyết định bác bỏ hay không bác bỏ . Trước khi tính, cần kiểm tra ba điều kiện để xấp xỉ phân phối chuẩn: mẫu được chọn ngẫu nhiên, cỡ mẫu không vượt quá 10% tổng thể nếu lấy mẫu không hoàn lại, và điều kiện số đếm lớn , . Nếu một trong ba điều kiện này bị vi phạm thì kết luận rút ra không còn đáng tin, vì xấp xỉ chuẩn không còn phù hợp.
Khác với kiểm định trung bình dùng phân phối t vì phương sai tổng thể thường chưa biết, kiểm định tỉ lệ dùng thẳng phân phối chuẩn z vì phương sai của đã được xác định hoàn toàn bởi dưới giả thuyết gốc. Do đó, công thức tính sai số chuẩn ở bước kiểm định khác với công thức dùng khi ước lượng khoảng, nơi được thay bằng chính vì không còn giả thuyết nào để dựa vào. Sự khác biệt nhỏ nhưng quan trọng này chính là điểm học sinh dễ nhầm lẫn nhất khi chuyển từ bài toán ước lượng khoảng sang bài toán kiểm định giả thuyết.
Trực giác: Giống như đo xem một đồng xu nghi ngờ bị lệch có thực sự khác đồng xu công bằng hay chỉ là dao động ngẫu nhiên khi tung nhiều lần.
dùng khi kiểm định giả thuyết về một tỉ lệ tổng thể duy nhất, với điều kiện mẫu ngẫu nhiên và cỡ mẫu đủ lớn sao cho và .
Trong đó
1933Jerzy NeymanEgon Pearson
Từ rất lâu trước khi thống kê hiện đại có công thức, các nhà khoa học đã vướng một câu hỏi nan giải: cần bao nhiêu bằng chứng thì mới được phép từ bỏ một niềm tin sẵn có? Kiểm định tỉ lệ ra đời chính từ mạch suy nghĩ đó. Khi người ta đếm số lần "thành công" trong một mẫu — số cử tri ủng hộ, số sản phẩm đạt chuẩn, số bệnh nhân khỏi bệnh — kết quả gần như không bao giờ trùng khít con số được nêu ra. Do đó cần một thủ tục chặt chẽ để tách phần chênh lệch do dao động lấy mẫu ra khỏi phần chênh lệch thật sự. Năm 1933, Neyman và Pearson đưa ra giả thuyết không (null hypothesis) và giả thuyết đối, cùng sai lầm loại I (Type I error) và loại II; nhờ đó thủ tục có được bộ khung quyết định mà đề thi vẫn yêu cầu trình bày cho đến ngày nay.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe rườm rà nhưng mỗi mảnh đều chỉ một chi tiết của bài toán. "Một mẫu" cho biết ta chỉ có duy nhất một nhóm dữ liệu đem so với một con số cho trước, khác với kiểm định hai mẫu vốn đặt hai tỉ lệ cạnh nhau. "Tỉ lệ" cho biết dữ liệu gốc là biến phân loại hai kết quả, nên đại lượng quan tâm là phần trăm "thành công" chứ không phải trung bình. Chữ "z" mới là phần đáng nói. Vì số lần thành công tuân theo phân phối nhị thức, mà phân phối này lại xấp xỉ được bằng phân phối chuẩn khi cỡ mẫu đủ lớn, nên thống kê kiểm định (test statistic) được chuẩn hoá về thang của phân phối chuẩn tắc — thang vẫn quen được ký hiệu bằng chữ : Tử số là khoảng cách giữa tỉ lệ mẫu và tỉ lệ giả định , còn mẫu số là độ lệch chuẩn của khi giả thuyết không đúng. Vì vậy đo xem khoảng cách ấy bằng bao nhiêu lần dao động thường thấy. Tên gọi, nói cách khác, chính là bản tóm tắt của công thức: một mẫu, dữ liệu tỉ lệ, kết luận đọc trên thang chuẩn.
Giữ nguyên p̂ = 0,58 rồi kéo cỡ mẫu lên — đếm xem còn mẫu nào xa hơn
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Sai số chuẩn trong kiểm định phải tính bằng , không phải bằng .
Đây là khác biệt lớn nhất giữa kiểm định và khoảng tin cậy cho tỉ lệ, và cũng là chỗ mất điểm nhiều nhất. Khi kiểm định, ta tạm coi giả thuyết không (null hypothesis) là đúng, nên độ dao động của tỉ lệ mẫu được tính theo giá trị giả định: Mẫu số ở đây là sai số chuẩn (standard error) tính từ , tức giá trị nêu trong giả thuyết. Ngược lại, khi ước lượng bằng khoảng tin cậy thì không có nào cả, nên buộc phải thay bằng . Dùng nhầm vào mẫu số của sẽ cho thống kê lệch và giám khảo trừ điểm phần "Do".
Điều kiện thành công–thất bại cũng kiểm bằng , không bằng .
Với kiểm định, ta viết và ; hai bất đẳng thức này bảo đảm phân phối của đủ gần chuẩn để dùng bảng . Nhiều bạn quen tay từ bài khoảng tin cậy nên viết , và tuy thường vẫn ra kết luận giống nhau, phần kiểm tra điều kiện vẫn bị tính là sai. Ngoài ra đừng quên hai điều kiện còn lại: dữ liệu đến từ mẫu ngẫu nhiên (random sample), và cỡ mẫu không vượt quá 10% tổng thể khi lấy mẫu không hoàn lại.
Giá trị p không phải xác suất giả thuyết không đúng.
Giá trị p (p-value) là xác suất quan sát được kết quả cực đoan bằng hoặc hơn kết quả của mẫu, VỚI ĐIỀU KIỆN đúng — nó là một xác suất có điều kiện đặt lên dữ liệu, chứ không đặt lên giả thuyết. Vì vậy câu "p = 0.03 nên xác suất đúng chỉ 3%" là sai hoàn toàn về mặt logic. Cách diễn đạt an toàn trong bài thi là: nếu tỉ lệ thật đúng bằng , thì chỉ khoảng 3% số mẫu cỡ cho tỉ lệ lệch xa như mẫu này hoặc xa hơn.
Không bác bỏ không có nghĩa là đúng.
Kiểm định giả thuyết chỉ trả lời được một câu hỏi: dữ liệu có đủ mạnh để phản bác giá trị giả định hay không. Khi giá trị p lớn hơn mức ý nghĩa, kết luận đúng là "không đủ bằng chứng để kết luận tỉ lệ khác ", chứ tuyệt đối không được viết "chấp nhận " hay "đã chứng minh tỉ lệ bằng ". Lý do là mẫu nhỏ hoặc biến thiên lớn đều có thể che giấu một khác biệt có thật, nên im lặng không đồng nghĩa với xác nhận. Đây là lỗi ngôn ngữ, nhưng trong thang chấm nó làm mất trọn điểm phần kết luận.
Chiều của giả thuyết đối quyết định cách tính giá trị p, và rất hay bị bỏ sót nhân đôi.
Nếu thì phải lấy diện tích hai đuôi, tức nhân đôi diện tích một đuôi; còn hoặc thì chỉ lấy đuôi tương ứng. Một dấu hiệu cảnh báo hữu ích: nếu âm mà bạn tra ra giá trị p gần 1 trong bài một đuôi phải, gần như chắc chắn bạn đã tra nhầm phía. Hãy vẽ nhanh đường cong chuẩn và tô phần đuôi trước khi bấm máy, thao tác đó mất mười giây nhưng chặn được lỗi phổ biến nhất của phần này.
Trình bày đủ bốn bước: nêu giả thuyết, chọn kiểm định và kiểm điều kiện, tính toán, kết luận có bối cảnh.
Thang chấm của câu tự luận chia điểm đúng theo bốn phần này, nên bỏ qua một phần là mất hẳn một phần điểm dù đáp số cuối cùng đúng. Ở bước đầu, phải định nghĩa bằng lời trong bối cảnh bài toán — ví dụ " là tỉ lệ toàn bộ học sinh trường X đi xe buýt" — chứ không được để trơ trọi. Ở bước cuối, câu kết luận cần có đủ ba thành phần: so sánh giá trị p với , quyết định bác bỏ hay không, và phát biểu lại bằng ngôn ngữ của đề.
Viết tên kiểm định ra giấy: one-sample z-test for a proportion.
Giám khảo chấp nhận hoặc tên đầy đủ, hoặc công thức thống kê kiểm định viết rõ; nếu bạn chỉ ghi "z-test" chung chung thì bước "Plan" có thể không được điểm. Cũng lưu ý ở đây dùng phân phối chuẩn chứ không dùng phân phối , vì tỉ lệ không có độ lệch chuẩn mẫu nào phải ước lượng riêng — mọi thông tin về độ dao động đã nằm trong và .
Nếu đề cho số lượng thành công, hãy đổi sang tỉ lệ trước khi thay vào công thức.
Chẳng hạn 62 người thuận trong 200 người khảo sát cho , và chính con số 0,31 này mới đi vào tử số . Nhiều bạn cuống lên thay thẳng 62 vào máy, ra khổng lồ rồi kết luận bác bỏ mạnh mẽ — một sai lầm dễ nhận ra nếu bạn có thói quen nhìn lại độ lớn của : trị tuyệt đối vượt quá 4 hoặc 5 trong bài thi thường là dấu hiệu nhập nhầm. Dành năm giây kiểm tra tính hợp lý của trước khi viết kết luận.
Với và giá trị p , ta bác bỏ . Có đủ bằng chứng thống kê để kết luận rằng tỉ lệ người tiêu dùng trong thành phố nhận ra logo mới sau chiến dịch quảng cáo lớn hơn 35%.
Với và giá trị p , ta bác bỏ : có bằng chứng thống kê cho thấy tỉ lệ người trưởng thành thuận tay trái khác 10%, cụ thể là cao hơn. Khoảng tin cậy 95% cho tỉ lệ này là khoảng từ 0,097 đến 0,163; việc nó vẫn chứa 0,10 là do khoảng tin cậy dùng thay cho khi tính sai số chuẩn, chứ không phải do tính toán sai.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .