AP Statistics

thành công và thất bại (trong phép thử nhị thức)

success and failure

Còn gọi: thành công · thất bại · success · failure · success and failure

Thành công và thất bại là hai kết quả có thể xảy ra ở mỗi lần thử trong phép thử nhị thức, với xác suất không đổi p và 1 trừ p.

Trong một phép thử nhị thức, mỗi lần thử chỉ dẫn tới đúng hai kết quả có thể xảy ra, và người ta đặt tên chúng là thành công và thất bại dù bản thân hai từ này không hề hàm ý tốt xấu. Chẳng hạn khi kiểm tra bóng đèn hỏng, "thành công" hoàn toàn có thể được định nghĩa là bắt gặp một bóng đèn hỏng, miễn là người làm bài giữ định nghĩa đó nhất quán suốt bài toán. Xác suất (probability) thành công được ký hiệu là pp, còn xác suất thất bại là q=1pq=1-p; vì chỉ có hai khả năng loại trừ nhau nên hai xác suất này luôn cộng lại bằng 1.

Ngoài ra, điều kiện làm nên một phép thử nhị thức hợp lệ là giá trị pp phải giữ nguyên không đổi qua tất cả nn lần thử, đồng thời các lần thử phải độc lập với nhau, nghĩa là kết quả của lần này không làm thay đổi xác suất thành công của lần kế tiếp. Nhờ tính độc lập đó, xác suất của một chuỗi (run) kết quả cụ thể được tính bằng cách nhân các xác suất thành công hoặc thất bại tương ứng của từng lần thử lại với nhau, đúng như cách tính xác suất bốn bóng đèn liên tiếp đều hỏng bằng p4p^4. Ngược lại, nếu pp không giữ nguyên, chẳng hạn khi lấy mẫu không hoàn lại từ một tổng thể nhỏ, mô hình nhị thức sẽ không còn áp dụng chính xác nữa.

Vì vậy, khi đếm tổng số lần thành công trong nn lần thử, ta thu được biến ngẫu nhiên nhị thức XX với hai tham số (parameter) nnpp, có kỳ vọng (expected value) μX=np\mu_X=np và độ lệch chuẩn σX=np(1p)\sigma_X=\sqrt{np(1-p)}. Cùng cặp ppqq ấy còn xuất hiện trong phân phối hình học, nơi người ta đếm số lần thử cần thiết cho tới khi gặp thành công đầu tiên thay vì đếm tổng số thành công. Do đó việc xác định rõ ngay từ đầu bài toán đâu là thành công và đâu là thất bại sẽ quyết định toàn bộ các phép tính xác suất về sau.

Ký hiệup, q = 1 − p

Trực giác: Giống như tung một đồng xu và quy ước trước mặt ngửa là "thành công", mặt sấp là "thất bại" — trò chơi không hề phân biệt tốt xấu, chỉ cần giữ đúng quy ước ấy suốt các lần tung.

Công thức

P(X=k)=(nk)pk(1p)nkP(X=k)=\htmlClass{fp-0}{\binom{n}{k}}\htmlClass{fp-1}{p^k}\htmlClass{fp-2}{(1-p)^{n-k}}

Dùng để tính xác suất có đúng kk lần thành công trong nn phép thử nhị thức, khi mỗi phép thử chỉ có hai kết quả thành công hoặc thất bại với xác suất thành công pp không đổi.

Trong đó

nnsố lần thử độc lậpkksố lần thành công cần tính xác suấtppxác suất thành công ở mỗi lần thử1p1-pxác suất thất bại ở mỗi lần thử
μX=np, σX=np(1p)\htmlClass{fp-0}{\mu_X=np},\ \htmlClass{fp-1}{\sigma_X=\sqrt{np(1-p)}}

Dùng để tóm tắt phân phối nhị thức bằng trung bình và độ lệch chuẩn (standard deviation) mà không cần liệt kê từng xác suất P(X=k)P(X=k).

Trong đó

μX\mu_Xsố lần thành công trung bình kỳ vọngσX\sigma_Xđộ lệch chuẩn của số lần thành công

Khái niệm này sinh ra từ đâu

1713Jacob Bernoulli

Cách gọi hai kết quả của một phép thử là "thành công" và "thất bại" gắn liền với nhà toán học Thụy Sĩ Jacob Bernoulli, người đã phân tích loại phép thử chỉ có đúng hai kết quả trong cuốn Ars Conjectandi xuất bản năm 1713.

Bài toán nền là loại phép thử ngẫu nhiên (random experiment) chỉ cho đúng hai kết quả có thể xảy ra, và xác suất của một trong hai kết quả ấy giữ nguyên qua mọi lần lặp lại. Jacob Bernoulli, nhà toán học Thụy Sĩ sống ở thế kỷ 17, đã phân tích tình huống này trong tác phẩm Ars Conjectandi công bố năm 1713; về sau giới thống kê đặt tên phép thử Bernoulli (Bernoulli trial) để ghi công ông. Nhờ việc gộp toàn bộ khả năng còn lại thành một nhóm duy nhất, mọi hiện tượng hai mặt đều quy về cùng một khuôn mẫu đếm được. Đó chính là bộ khung mà chương trình thống kê phổ thông vẫn dùng khi đếm số lần "thành công" trong một dãy phép thử độc lập.

Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe có vẻ mang màu sắc đạo đức, nhưng trong thống kê thì không. Chữ "thành công" ở đây chỉ có nghĩa là kết quả (outcome) quan sát được thỏa mãn điều kiện mà người làm nghiên cứu đã nêu ra từ trước, chứ không hàm ý điều gì tốt đẹp hay đáng mong muốn. Chẳng hạn khi gieo một con xúc xắc, ta hoàn toàn có quyền quy ước mặt sáu chấm là "thành công" và gộp năm mặt còn lại thành "thất bại"; nếu muốn, ta cũng có thể quy ước ngược lại mà không có gì sai. Vì vậy hai nhãn này chỉ là cách đặt tên cho hai nhóm kết quả sau khi đã chia đôi không gian mẫu, và người giải đề phải đọc kỹ xem đề bài định nghĩa "thành công" là biến cố nào trước khi áp công thức.

Hay hiểu sai

Thành công không có nghĩa là kết quả tốt.

Đã chọn đâu là thành công thì phải giữ nguyên định nghĩa đó đến hết bài.

Biến nhị thức đếm số thành công, không đếm số phép thử.

Điều kiện đếm lớn đòi hỏi kiểm tra cả thành công lẫn thất bại.

"Ít nhất một thành công" lấy phần bù của không thành công nào, không phải của một thành công.

Mẹo phòng thi

Câu đầu tiên của mọi bài nhị thức phải định nghĩa thành công bằng lời.

Kiểm tra bốn điều kiện BINS trước khi gọi tên phân phối nhị thức.

Đọc kỹ chữ "ít nhất", "nhiều nhất", "nhiều hơn" để chọn đúng hàm tích lũy.

Tần suất trong đề AP StatisticsThường xuyên

Ví dụ có lời giải

1Ví dụ 1/2
Một nhà máy sản xuất bóng đèn có tỉ lệ sản phẩm lỗi là 0,1. Nhân viên kiểm định lấy ngẫu nhiên 8 bóng từ một lô hàng rất lớn và đếm xem có bao nhiêu bóng bị lỗi. Gọi XX là số bóng lỗi trong 8 bóng được lấy.
  1. aGiải thích vì sao XX thỏa các điều kiện của một phép thử nhị thức, đồng thời chỉ rõ trong bài toán này đâu là "thành công", đâu là "thất bại" và giá trị của xác suất thành công (probability of success).
  2. bTính xác suất có đúng 3 trong 8 bóng bị lỗi.
1Bước 1: Kiểm tra bốn điều kiện của phép thử nhị thức. Mỗi bóng đèn được kiểm chỉ cho hai kết quả loại trừ nhau là lỗi hoặc không lỗi; số lần thử được ấn định trước là n=8n = 8; vì lô hàng rất lớn nên việc rút 8 bóng coi như các phép thử độc lập (independent trials); và xác suất một bóng bị lỗi giữ nguyên bằng 0,1 ở mọi lần thử. Bốn điều kiện đều đạt nên XX tuân theo phân phối nhị thức (binomial distribution).
2Bước 2: Gán nhãn "thành công" cho biến cố mà ta đang đếm, ở đây là bóng bị lỗi, còn "thất bại" là bóng dùng được. Nhãn này không mang nghĩa tốt hay xấu; nó chỉ đánh dấu kết quả mà biến đếm XX ghi nhận. Do đó p=0,1p = 0{,}11p=0,91 - p = 0{,}9, ta viết XB(8, 0,1)X \sim B(8,\ 0{,}1).
3Bước 3: Áp dụng công thức xác suất nhị thức: P(X=k)=(nk)pk(1p)nkP(X = k) = \binom{n}{k} p^{k} (1-p)^{n-k} Trong đó (nk)\binom{n}{k} đếm số cách chọn ra kk lần thành công trong nn lần thử, pkp^{k} là xác suất của kk lần thành công đó, còn (1p)nk(1-p)^{n-k} là xác suất của các lần thất bại còn lại.
4Bước 4: Thay n=8n = 8, k=3k = 3, p=0,1p = 0{,}1: (83)=56\binom{8}{3} = 56, (0,1)3=0,001(0{,}1)^3 = 0{,}001(0,9)5=0,59049(0{,}9)^5 = 0{,}59049. Nhân ba thừa số: P(X=3)=56×0,001×0,59049=0,0331P(X = 3) = 56 \times 0{,}001 \times 0{,}59049 = 0{,}0331

Vì mỗi bóng chỉ cho hai kết quả, số lần kiểm cố định, các lần kiểm độc lập và xác suất lỗi không đổi, số bóng lỗi tuân theo phân phối nhị thức với "thành công" là bóng bị lỗi và p=0,1p = 0{,}1. Xác suất có đúng 3 bóng lỗi trong 8 bóng được kiểm là khoảng 0,03310{,}0331, tức chỉ chừng 3,3% các lần kiểm định 8 bóng sẽ cho kết quả này.

2Ví dụ 2/2
Có 95% người mua xe hơi mới chọn loại hộp số tự động. Một hãng xe lấy ngẫu nhiên 50 người vừa mua xe mới và ghi lại lựa chọn hộp số của họ.
  1. aGọi "thành công" là việc một người chọn hộp số tự động. Tính và diễn giải trung bình cùng độ lệch chuẩn (standard deviation) của số người chọn hộp số tự động trong 50 người.
  2. bNếu đổi nhãn, coi "thành công" là việc chọn hộp số sàn, hãy tính lại trung bình và độ lệch chuẩn, rồi cho biết kết luận về trường hợp chỉ có 40 người chọn hộp số tự động có thay đổi hay không.
1Bước 1: Với nhãn ở ý (a), gọi XX là số người chọn hộp số tự động thì n=50n = 50p=0,95p = 0{,}95. Trung bình và độ lệch chuẩn của một biến nhị thức là μX=np,σX=np(1p)\mu_X = np, \qquad \sigma_X = \sqrt{np(1-p)} Công thức thứ nhất nói trung bình mỗi mẫu có bao nhiêu lần thành công, công thức thứ hai đo mức dao động điển hình của con số đó quanh trung bình.
2Bước 2: Thay số: μX=50×0,95=47,5\mu_X = 50 \times 0{,}95 = 47{,}5σX=50×0,95×0,05=2,375=1,54\sigma_X = \sqrt{50 \times 0{,}95 \times 0{,}05} = \sqrt{2{,}375} = 1{,}54. Diễn giải trong ngữ cảnh: qua rất nhiều mẫu ngẫu nhiên gồm 50 người mua xe, trung bình có 47,5 người chọn hộp số tự động, và ở một mẫu bất kỳ con số này thường lệch khỏi 47,5 khoảng 1,54 người.
3Bước 3: Bây giờ đổi nhãn: gọi YY là số người chọn hộp số sàn, khi đó "thành công" ứng với xác suất p=0,05p = 0{,}05. Ta được μY=50×0,05=2,5\mu_Y = 50 \times 0{,}05 = 2{,}5σY=50×0,05×0,95=1,54\sigma_Y = \sqrt{50 \times 0{,}05 \times 0{,}95} = 1{,}54. Trung bình thay đổi vì ta đang đếm nhóm khác, nhưng độ lệch chuẩn giữ nguyên do tích p(1p)p(1-p) không đổi khi hoán vị hai nhãn.
4Bước 4: So sánh hai cách gán nhãn đối với biến cố "chỉ 40 người chọn hộp số tự động". Theo XX: z=4047,51,54=4,87z = \dfrac{40 - 47{,}5}{1{,}54} = -4{,}87. Vì X=40X = 40 tương đương Y=10Y = 10, theo YY ta có z=102,51,54=4,87z = \dfrac{10 - 2{,}5}{1{,}54} = 4{,}87. Hai giá trị chỉ khác dấu nên khoảng cách tới trung bình vẫn là 4,87 độ lệch chuẩn.

Với "thành công" là chọn hộp số tự động, số người chọn loại này có trung bình 47,5 người và độ lệch chuẩn 1,54 người. Khi đổi nhãn sang hộp số sàn, trung bình chuyển thành 2,5 nhưng độ lệch chuẩn vẫn là 1,54, và kết quả 40 người chọn hộp số tự động vẫn nằm cách trung bình 4,87 độ lệch chuẩn. Vì vậy dù chọn nhãn nào, kết luận cũng như nhau: quan sát ấy rất bất thường đối với một mẫu 50 người mua xe. Điều quan trọng không phải là gán nhãn cho nhóm nào, mà là giữ nguyên nhãn đó suốt bài làm.

Bạn nắm chắc chưa?

Quiz câu thật từ ngân hàng đề

Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.

Tạo tài khoản miễn phí

Học tiếp từ đây

Bài học chứa thuật ngữ nàyPhân phối nhị thứcXác suất, biến ngẫu nhiên & phân phối xác suất · khoá AP Statistics
Cần trướckết cục
Mục tiêu và lộ trình unit xem miễn phí — làm bài tập và lưu tiến độ cần tài khoản 0đ.

Hay nhầm với

Khác nhau ở đâuKết cục là mọi khả năng có thể xảy ra của một phép thử. Thành công và thất bại là hai nhãn gộp toàn bộ kết cục đó thành đúng hai nhóm.
Hay nhầm khiĐề cho phép thử có nhiều kết cục (tung xúc xắc sáu mặt) và hỏi xác suất thành công, thí sinh quên gộp các kết cục còn lại thành một nhóm thất bại.
Khác nhau ở đâuBiến cố bù là khái niệm xác suất tổng quát áp dụng cho mọi biến cố. Thất bại là trường hợp riêng: nó chính là biến cố bù của thành công trong một phép thử.
Hay nhầm khiKhi tính q=1pq=1-p, thí sinh nhầm giữa việc lấy bù trong một phép thử đơn lẻ và lấy bù của biến cố ghép qua nhiều phép thử.

Cùng chủ đề

Nguồn tham khảo

  1. [1]Barron_AP_Stat_2026. tr. 287, 291.

Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .