AP Statistics
sampling without replacement
Còn gọi: lấy mẫu không hoàn lại · sampling without replacement
Chọn mẫu không hoàn lại là cách lấy mẫu trong đó mỗi cá thể, sau khi được chọn, không được đưa trở lại tổng thể để có cơ hội bị chọn lần nữa.
Khi lấy mẫu ngẫu nhiên từ một tổng thể, người ta có thể chọn từng cá thể rồi bỏ lại vào tổng thể trước khi bốc cá thể tiếp theo, hoặc giữ nguyên cá thể đã chọn ở ngoài. Cách làm thứ hai gọi là chọn mẫu không hoàn lại (sampling without replacement), và đây chính là cách hầu hết các cuộc khảo sát thực tế vận hành: một người đã được phỏng vấn thì không bị chọn lại lần thứ hai trong cùng một mẫu. Hệ quả là xác suất chọn trúng một cá thể cụ thể thay đổi sau mỗi lần rút, vì tổng thể còn lại đã hụt đi một đơn vị.
Sự thay đổi xác suất này khiến các quan sát trong mẫu không còn độc lập tuyệt đối với nhau, điều vốn là giả định nền của phân phối nhị thức và của các công thức tính độ lệch chuẩn (standard deviation) cho tỉ lệ mẫu hay trung bình mẫu . Tuy nhiên, nếu kích thước mẫu chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với kích thước tổng thể , sự phụ thuộc giữa các lần rút gần như không đáng kể, và ta vẫn có thể dùng các công thức xây dựng cho trường hợp có hoàn lại mà sai số không đáng lo. Từ đó sinh ra điều kiện 10% quen thuộc trong đề thi:
Điều kiện này phát biểu rằng cỡ mẫu không được vượt quá mười phần trăm tổng thể. Khi điều kiện được thỏa, sách giáo khoa cho phép coi các quan sát là gần như độc lập, nhờ đó công thức tính độ lệch chuẩn của hay của hiệu hai tỉ lệ mẫu vẫn áp dụng được mà không cần hệ số hiệu chỉnh tổng thể hữu hạn. Ngược lại, nếu mẫu chiếm tỉ lệ lớn trong tổng thể, chẳng hạn rút 50 học sinh từ một lớp 60 em, thì sự phụ thuộc giữa các lần chọn trở nên đáng kể và các công thức xấp xỉ nhị thức không còn đáng tin cậy.
Trực giác: Giống như rút bài ra khỏi cỗ bài và không đặt lại: mỗi lá đã rút làm thay đổi cơ hội của những lá còn lại trong cỗ.
Dùng để kiểm tra điều kiện độc lập gần đúng khi lấy mẫu không hoàn lại: nếu cỡ mẫu không vượt quá 10% cỡ tổng thể thì có thể xem các lần rút mẫu là gần như độc lập và áp dụng công thức độ lệch chuẩn tính cho lấy mẫu có hoàn lại.
Trong đó
cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20John GrauntAnders KiaerRonald A. FisherJerzy NeymanP. C. Mahalanobis
Trước khi có khái niệm này, các cuộc thống kê về đất đai, dân cư và tài sản đều nhắm tới việc đếm toàn bộ tổng thể. Ghi nhận đầu tiên về việc dùng một phần để suy ra toàn thể là ước lượng dân số London của John Graunt năm 1662. Đến năm 1895, Anders Kiaer, người sáng lập Cơ quan Thống kê Na Uy, công bố một phương pháp chọn mẫu có thể xem là ngẫu nhiên, nhưng giới thống kê đương thời phần lớn không chấp nhận vì kết quả không đến từ toàn bộ dân số. Phải mất khoảng năm mươi năm nữa, với đóng góp của Ronald A. Fisher và Jerzy Neyman, lý thuyết đánh giá ước lượng từ mẫu ngẫu nhiên mới thành hình. Trong giai đoạn đó, Mahalanobis tiến hành các thực nghiệm chọn mẫu ngẫu nhiên có tính đến quan hệ không gian, mở đường cho các kỹ thuật rút mẫu con về sau.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe lạ tai chủ yếu vì chữ "replacement" ở đây không mang nghĩa "thay thế" như trong tiếng Anh thông thường, mà mang nghĩa gốc là "đặt trở lại chỗ cũ". Hình ảnh chuẩn mực trong các tài liệu là một lọ đựng những viên bi khác nhau: rút một viên rồi bỏ nó trở lại lọ thì gọi là chọn mẫu có hoàn lại (sampling with replacement), còn giữ viên bi đó bên ngoài thì chính là chọn mẫu không hoàn lại. Vì vậy tên gọi mô tả đúng một thao tác vật lý chứ không phải một ý tưởng trừu tượng, và nó giải thích luôn hệ quả toán học: mỗi lần rút, số đơn vị còn lại giảm đi nên xác suất ở lần sau thay đổi theo. Cách đặt tên này gắn liền với bối cảnh tổng thể hữu hạn (finite population) của lý thuyết điều tra, nơi việc hỏi lại đúng một người hai lần là điều vô nghĩa về mặt thực tiễn.
Bấm dọc một đường rút — nhìn mẫu số teo dần 20 → 19 → 18
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Chọn mẫu không hoàn lại KHÔNG cho các quan sát độc lập thật sự.
Khi rút một cá thể ra mà không trả lại, thành phần còn lại của tổng thể đã thay đổi, nên xác suất ở lần rút sau phụ thuộc vào kết quả lần rút trước — đó chính là sự phụ thuộc. Điều kiện 10% (10 percent condition) không biến sự phụ thuộc này thành độc lập; nó chỉ bảo đảm mức phụ thuộc nhỏ đến mức bỏ qua được, để ta vẫn dùng được các công thức giả định độc lập (independence). Vì vậy khi trình bày, hãy viết "độc lập là hợp lý một cách xấp xỉ" chứ đừng khẳng định các quan sát độc lập.
Điều kiện 10% là , không phải .
Ở đây là cỡ mẫu còn là kích thước tổng thể, và bất đẳng thức nói rằng tổng thể phải lớn ít nhất gấp mười lần cỡ mẫu. Rất nhiều học sinh viết ngược hai chữ cái rồi kết luận điều kiện bị vi phạm trong khi thực tế nó thỏa mãn thoải mái. Một cách viết tương đương an toàn hơn là kèm câu giải thích bằng lời, chẳng hạn "số học sinh toàn trường lớn hơn 10 lần số 40 em được chọn".
Điều kiện 10% và điều kiện đếm lớn là hai điều kiện khác nhau, kiểm cả hai.
Điều kiện đếm lớn (large counts condition) và phục vụ việc xấp xỉ phân phối mẫu bằng phân phối chuẩn, tức là nó nói về HÌNH DẠNG. Ngược lại, điều kiện 10% phục vụ việc tính sai số chuẩn theo công thức quen thuộc, tức là nó nói về ĐỘ PHÂN TÁN. Viết được cái này mà quên cái kia thì giám khảo chỉ cho điểm một nửa phần "conditions", dù phần tính toán phía sau hoàn toàn đúng.
Bài hai tổng thể phải kiểm điều kiện 10% riêng cho từng mẫu.
Khi ước lượng hiệu hai tỉ lệ tổng thể, đề thường cho hai mẫu rút không hoàn lại từ hai tổng thể tách biệt, nên cần cả lẫn . Nhiều học sinh chỉ viết một dòng chung chung kiểu "mẫu nhỏ so với tổng thể" rồi chuyển sang tính toán, và mất trọn điểm phần kiểm tra. Ngoài ra còn phải nói rõ hai mẫu là ngẫu nhiên và độc lập với nhau — độc lập giữa hai mẫu là chuyện khác với độc lập bên trong mỗi mẫu.
Viết điều kiện 10% bằng số cụ thể, đừng chỉ chép công thức tổng quát.
Câu trả lời được điểm là câu gắn được ký hiệu vào ngữ cảnh của đề: "mẫu 50 khách hàng nhỏ hơn 10% trong số hơn 20 000 khách hàng của chuỗi cửa hàng, nên thỏa mãn". Nếu đề không cho kích thước tổng thể chính xác, hãy lập luận hợp lý rằng tổng thể đủ lớn thay vì bỏ trống. Một dòng lập luận có nhắc đến con số luôn an toàn hơn một dòng công thức trần trụi.
Gặp cụm "sampling without replacement" trong đề, phản xạ đầu tiên là nghĩ tới điều kiện 10%.
Đây là tín hiệu mà ngân hàng đề dùng để kiểm tra xem thí sinh có hiểu vì sao cần điều kiện này hay không, và câu hỏi trắc nghiệm thường đưa ra bốn phương án đều là những điều kiện nghe quen tai. Hãy loại ngay các phương án nói về hình dạng phân phối hoặc về cỡ mẫu tối thiểu, rồi chọn phương án so sánh cỡ mẫu với kích thước tổng thể. Nhớ rằng câu hỏi hỏi "phải kiểm gì" chứ không hỏi "kết luận là gì".
Đừng dùng hệ số hiệu chỉnh tổng thể hữu hạn trong bài thi AP.
Khi mẫu chiếm phần lớn tổng thể, thống kê nâng cao có hệ số hiệu chỉnh tổng thể hữu hạn (finite population correction factor) để thu nhỏ sai số chuẩn, nhưng chương trình AP không yêu cầu và bảng công thức phát trong phòng thi cũng không có nó. Cách xử lý đúng theo chuẩn chấm là kiểm điều kiện 10%; nếu điều kiện vi phạm thì nêu rõ rằng kết quả suy luận có thể không đáng tin. Trình bày như vậy vừa ngắn vừa đúng khung điểm, còn kéo công thức lạ vào chỉ làm giám khảo nghi ngờ phần còn lại.
Vì cả hai mẫu đều được chọn không hoàn lại, ngoài yêu cầu ngẫu nhiên, độc lập và bốn số đếm thành công/thất bại ít nhất bằng 10, ta còn phải kiểm tra thêm rằng mỗi cỡ mẫu không vượt quá 10% tổng thể của nó; ở đây và nên điều kiện đạt. Khoảng tin cậy 95% cho hiệu tỉ lệ học sinh đi phương tiện công cộng giữa trường A và trường B là khoảng đến . Ta tin 95% rằng tỉ lệ thực ở trường A cao hơn trường B từ khoảng 4,7 đến 35,3 điểm phần trăm; vì toàn bộ khoảng nằm bên phải số 0, số liệu cho bằng chứng rằng trường A có tỉ lệ cao hơn thật sự.
Vì rút không hoàn lại, xác suất em thứ hai đeo kính giảm từ xuống khi biết em thứ nhất đã đeo kính, chứng tỏ các lần rút phụ thuộc lẫn nhau. Xác suất đúng để nhóm có đúng 2 em đeo kính là , trong khi mô hình nhị thức cho ; sai lệch này lớn vì mẫu chiếm tới 25% lớp, vi phạm điều kiện 10%. Nói cách khác, chọn mẫu không hoàn lại chỉ được phép coi như độc lập khi mẫu nhỏ so với tổng thể, còn với tổng thể bé như lớp 20 học sinh thì phải dùng đúng phân phối siêu bội.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .